2020-10-23 09:48:03.0
  • A-
  • A+

Hầu hết các công trình thể thao khi được xây dựng bằng nguồn tài chính công ở tất cả các nước đều phải đi kèm với một “nghiên cứu tác động kinh tế” hay “đề án kinh tế” chi tiết cũng như đánh giá những lợi ích kinh tế hữu hình tích cực sẽ chảy vào nền kinh tế địa phương ngay khi bắt đầu xây dựng. Các nghiên cứu này được thiết kế nhằm thuyết phục những người phản đối các khoản trợ cấp từ ngân sách cũng như những người giữ quyền quyết định.

 

Nhìn chung, nghiên cứu về tác động kinh tế của các công trình thể thao thường tập trung vào các sân vận động vì đây là sân nhà của các câu lạc bộ thể thao, các đội bóng chuyên nghiệp hoặc là các công trình được xây dựng để tổ chức các sự kiện trọng đại như Thế vận hội Olympic, Asiad... Sở dĩ như vậy vì, xây dựng những công trình đó tốn kém rất lớn và khu vực lân cận của các công trình đó sẽ “gặt hái” được lợi ích kinh tế trước và trong suốt thời gian diễn ra sự kiện thông qua các loại hình dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ thiết yếu từ đó tạo ra hàng trăm, thậm chí hàng nghìn việc làm mới.

 

Nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của các công trình thể thao thường có 2 xu hướng: Ủng hộ và phản bác việc xây dựng các công trình thể thao mới.

 

- Các nghiên cứu ủng hộ thường đưa ra ước tính lợi ích kinh tế tích cực. Theo các nghiên cứu này mỗi công trình thể thao được đề xuất xây dựng sẽ “bơm” hàng triệu đô la chi tiêu mới chảy vào nền kinh tế địa phương trong thời gian xây dựng. Khi các công trình này hoàn thành sẽ tiếp tục tạo ra những việc làm mới, nâng cao thu nhập và làm giàu cho chính quyền địa phương.

 

- Các nghiên cứu phản bác xây dựng các công trình thể thao đều có tính lặp lại 1 cách khá nhàm chán. Cụ thể, các nghiên cứu này sử dụng các mô hình kinh tế lượng để xác định thu nhập hoặc việc làm nhằm tìm kiếm bằng chứng cho thấy, tác động kinh tế của việc xây dựng các công trình thể thao mới đối với nền kinh tế trong quá khứ hầu như không đồng nhất. Không có bằng chứng cho thấy rằng, các công trình thể thao tạo ra lợi ích kinh tế hữu hình tích cực đối với địa phương được đầu tư xây dựng công trình thể thao lớn so với các địa phương khác.

 

Điều thú vị là trong thời kỳ mà các công trình thể thao mới đang được xây dựng thì những khác biệt này rất nhỏ. Đối với các công trình kiến trúc lớn, việc xây dựng và hoàn thiện công trình  đòi hỏi hàng trăm thậm chí hàng nghìn công nhân kéo dài từ vài năm đến hàng chục năm. Bằng chứng thực nghiệm trong các nghiên cứu tác động kinh tế và nghiên cứu kinh tế lượng lập lại nhiều lần có thể cho kết quả nhất quán trong một lĩnh vực cụ thể trong trường hợp là các sự kiện lớn như Thế vận hội. Các nghiên cứu này cho thấy, tổng số việc làm ở các thành phố có địa điểm xây dựng công trình thi đấu Olympic cao hơn trong và sau khi kết thúc sự kiện so với trước đó. Tuy nhiên, bằng chứng này chỉ đến từ một thành phố có liên quan đến một sự kiện duy nhất và ảnh hưởng tới các công trình thể thao phục vụ nó nên gây ra một số nghi ngờ về tính xác thực và chắc chắn của nó.

 

Điều quan trọng nữa cần lưu ý, việc chưa có bất kỳ bằng chứng thực nghiệm nào khác về tác động kinh tế tích cực do các công trình thể thao mang lại không có nghĩa là các công trình này không xứng đáng được trợ cấp từ ngân sách hoặc nguồn tài chính công. Các môn thể thao thu hút được nhiều khán giả là một loại “hàng hóa công” quan trọng, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. Những người hâm mộ thể thao thu được lợi ích tiêu dùng quan trọng từ việc tham dự các sự kiện, xem, nghe, đọc và thảo luận về các sự kiện thể thao. Các CLB thể thao và các công trình thể thao trọng điểm cung cấp cho cư dân của các thành phố mối quan tâm chung, ý thức vì cộng đồng, quan trọng và xa hơn nữa là tinh thần tự hào dân tộc của cả đất nước khi diễn ra các kiện thể thao có nhiều quốc gia tham dự. Từ đó, nhiều người có quan điểm rằng một hoặc nhiều CLB thể thao chuyên nghiệp và cơ sở vật chất thể thao chuyên nghiệp tại 1 thành phố sẽ giúp tạo nên thành phố “đẳng cấp thế giới”, mang lại nền kinh tế cho địa phương để ủng hộ lập luận rằng nên sử dụng công quỹ đầu tư cho các công trình thể thao trọng điểm.

 

Coates và Humphreys (1999, 2001) cung cấp bằng chứng theo hướng ngược lại rằng, thể thao chuyên nghiệp thực sự làm... giảm thu nhập của địa phương. Mấu chốt của lập luận này là mức độ chi tiêu cho các hoạt động liên quan đến thể thao thay thế cho chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ. Theo đó, cần giải quyết sự thay thế này bằng cách tập trung vào mối quan hệ giữa môi trường thể thao, việc làm và thu nhập của người lao động trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế có liên kết chặt chẽ nhất với môi trường thể thao như ăn uống, nhà hàng, quán bar, khách sạn và các dịch vụ giải trí, trò vui chơi khác cũng như các lĩnh vực dịch vụ và bán lẻ rộng lớn hơn. Trong nghiên cứu này, Coates và Humphreys điều chỉnh cách tiếp cận để tập trung vào tác động của môi trường thể thao đối với tiền lương và việc làm trong bán lẻ với việc kết hợp mô hình thực nghiệm dạng rút gọn tuyến tính cho thấy tác động tổng thể của nó là tiêu cực và sự gia tăng trong môi trường thể thao có liên quan đến doanh số bán lẻ, đến thu nhập bình quân đầu người thực tế thấp hơn tại các thành phố có cơ sở thể thao và nhượng quyền thương mại.

 

Khả năng các công trình thể thao và nhượng quyền thương mại có tác động tiêu cực đến nền kinh tế địa phương đặt ra một số câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ vào thời điểm này. Các kết luận khác nhau từ các nghiên cứu tác động kinh tế và nghiên cứu liên quan trước đó đều không tìm thấy bằng chứng về tác động kinh tế. Nhưng để các công trình thể thao và hoạt động của nó trong đó có tác động tiêu cực đến nền kinh tế địa phương, cần phải có một số yếu tố khác. Vậy những yếu tố này là gì và chúng có thể hoạt động như thế nào?

 

Siegfried và Zimbalist (2000) đưa ra một số lý do có thể giải thích cho tác động kinh tế tiêu cực này. Một lý do có khả năng là chi tiêu trong và xung quanh một công trình thể thao là sự phân bổ lại chi tiêu cho giải trí đã diễn ra ở một nơi khác trong thành phố. Trong trường hợp nếu như không có công trình thể thao thì thay vì đến tham dự một sự kiện thể thao, người tiêu dùng có thể dùng bữa trong mộ nhà hàng hoặc xem 1 bộ phim hay 1 vở kịch. Nếu như số tiền mà người tiêu dùng chi cho các hoạt động giải trí thay thế này tuần hoàn rộng rãi trong nền kinh tế địa phương thì số tiền chi tiêu trong một công trình thể thao lại chủ yếu đi vào túi của những VĐV được trả lương cao và chủ sở hữu không sống ở thành phố. Siegfried và Zimbalist gọi đây là “sự thay thế trong chi tiêu cá nhân”. Nó cho thấy tác động kinh tế của các công trình thể thao và nhượng quyền thương mại sẽ không đồng đều so với các lĩnh vực khác của nền kinh tế địa phương. Các lý do khả thi khác bao gồm chi phí cơ hội của chi tiêu công cho các cơ sở thể thao dẫn đến giảm chi tiêu công cho giáo dục, y tế, an toàn công cộng và cơ sở hạ tầng, cuối cùng làm giảm thu nhập địa phương.

 

Các vấn đề nghiên cứu quan trọng khác vẫn phải được tiếp tục thực hiện trong lĩnh vực này. Các nhà nghiên cứu biết còn rất ít về các khía cạnh khác nhau của tác động kinh tế đối với các công trình thể thao, giá thuê nhà và giá bất động sản gần công trình thể thao có tăng lên không? Việc mở ra một công trình thể thao mới và chuyển hướng chi tiêu của người tiêu dùng từ các khu vực khác của thành phố vào khu vực xung quanh công trình đó có gây hại cho các hoạt động kinh doanh có liên quan đến giải trí ở các khu vực ngoại thành không? Liệu bằng chứng về tác động kinh tế tiêu cực của các công trình thể thao đối với nền kinh tế địa phương hoặc ít nhất là thiếu bằng chứng về tác động kinh tế tích cực có phù hợp với nguồn dữ liệu được sử dụng để kiểm tra chúng không? Những câu hỏi thú vị và quan trọng này vẫn cần được trả lời trong các nghiên cứu trong tương lai về tác động kinh tế của các cơ sở thể thao.

 

 

Theo: tapchithethao.vn

Nguồn: http://tapchithethao.vn/tac-dong-kinh-te-cua-cac-cong-trinh-the-thao-n5937.html